THÔNG TIN TUYÊN TRUYỀN

Một số nội dung mới, cơ bản của Thông tư số 01/2020/TT-BTP ngày 03/3/2020 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ
Ngày đăng 15/05/2020 | 15:59  | View count: 92

Sau hơn 5 năm thực hiện, Nghị định số 23/2015/NĐ-CP đã đi vào cuộc sống, phát huy được vai trò của mình và đạt được nhiều kết quả rất đáng ghi nhận, tạo cơ sở pháp lý quan trọng trong đổi mới công tác chứng thực như: Quy định mở rộng thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký cho các tổ chức hành nghề công chứng đã giảm tải công việc chứng thực cho Phòng Tư pháp và UBND phường, đồng thời tạo thêm một điểm đến cho người dân trong việc lựa chọn công chứng/chứng thực; đơn giản hóa về thủ tục hành chính trong giải quyết yêu cầu chứng thực; quy định rõ trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực, người thực hiện chứng thực... Bên cạnh mặt tích cực vẫn còn một số hạn chế như: một số nơi còn xảy ra tình trạng chứng thực bản sao một cách tràn lan, ồ ạt, không theo đúng quy định pháp luật;các loại giấy tờ được làm giả ngày càng tinh vinên người thực hiện chứng thực rất khó để có thể nhận biết đâu là giấy tờ giả, giấy tờ thật Nguy cơ càng gia tăng với các loại giấy tờ có giá trị quan trọng như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bằng tốt nghiệp hay các loại giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp. Ngoài ra vẫn còn tình trạng thực hiện việc chứng thực chữ ký trên giấy tờ, văn bản có nội dung là hợp đồng, giao dịch hoặc lạm dụng văn bản chứng thực chữ ký, sử dụng văn bản chứng thực chữ ký thay cho bản chính giấy tờ khác ; lĩnh vực chứng thực cùng lúc chịu nhiều sự điều chỉnh bởi nhiều văn bản quy phạm pháp luật, gây khó khăn trong quá trình áp dụng thực tiễn; công chức làm công tác tư pháp - hộ tịch cấp xã đảm nhiệm nhiều công việc nên khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ về công tác chứng thực... Một trong những khó khăn nữa là việc chứng thực chữ ký, mục đích là xác nhận người yêu cầu chứng thực chính là người đã ký chữ ký đó, tức là xác nhận về hình thức, còn nội dung giấy tờ, văn bản thì do người yêu cầu chứng thực chữ ký chịu trách nhiệm. Nhưng tại Nghị định 23 lại quy định “Không được chứng thực chữ ký nếu giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực chữ ký có nội dung trái pháp luật…”, quy định này sẽ không phát sinh vướng mắc nếu giấy tờ, văn bản mà người yêu cầu chứng thực chữ ký vào được lập bằng tiếng Việt. Còn nếu giấy tờ, văn bản đó được lập bằng tiếng nước ngoài thì không phải cán bộ thực hiện chứng thực nào cũng có thể hiểu được nội dung để giải quyết, nhưng cũng không thể từ chối chứng thực… Chính vì vậy người dân lại phải tốn kém thêm về thời gian và chi phí để dịch các văn bản viết bằng tiếng nước ngoài rồi mới mang đi chứng thực chữ ký.

Để giải quyết những tồn tại, hạn chế của công tác chứng thực nêu trên,nhằm tăng cường hiệu quả, chất lượng, đảm bảo sự chính xác khi chứng thực, đặc biệt là chứng thực hợp đồng, giao dịch, hạn chế rủi ro, tranh chấp xảy ra, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý công tác chứng thực, ngày 03/3/2020, Bộ trưởng Bộ Tư pháp ban hành  Thông  tư số 01/2020/TT-BTP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 23/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch (có hiệu lực 20/4/2020) với một số điểm mới cơ bảnnhư sau:

1. Yêu cầu hợp pháp hóa lãnh sự đối với một số giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp (Đ6)

Không phải hợp pháp hóa lãnh sự khi chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài cấp cho cá nhân như:  Hộ chiếu, thẻ căn cước, thẻ thường trú, thẻ cư trú; giấy phép lái xe; bằng tốt nghiệp, chứng chỉ và bảng điểm kèm theo bằng tốt nghiệp, chứng chỉ 

2. Trách nhiệm khi tiếp nhận hồ sơ tại bộ phận một cửa (Đ8)

Khi tiếp nhận hồ sơ chứng thực chữ ký, chứng thực hợp đồng, giao dịch tại bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông, người tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra kỹ hồ sơ, tính xác thực về chữ ký của người yêu cầu chứng thực. Người tiếp nhận hồ sơ phải bảo đảm người yêu cầu chứng thực chữ ký minh mẫn, nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có năng lực hành vi dân sự, tự nguyện giao kết hợp đồng, giao dịch.

3. Trách nhiệm của người yêu cầu chứng thực (Đ9)

Khi yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính, người yêu cầu chứng thực phải xuất trình bản chính để đối chiếu và chịu trách nhiệm về tính xác thực của bản chính được sử dụng để chứng thực bản sao. Bản chính phải bảo đảm về nội dung và hình thức mà cơ quan nhà nước đã ban hành hoặc xác nhận.

4. Chứng thực hộ khẩu, hộ chiếu, học bạ… (Đ10)

Phải gồm đầy đủ số trang có thông tin của bản chính: Trang bìa và các trang có ghi thông tin.

5. Trách nhiệm của người thực hiện chứng thực, người tiếp nhận hồ sơ khi chứng thực bản sao từ bản chính (Đ11)

Nếu phát hiện bản chính thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 22 Nghị định số 23/2015/NĐ-CP thì cơ quan thực hiện chứng thực từ chối tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp người yêu cầu chứng thực sử dụng bản chính bị tẩy xóa, thêm bớt, làm sai lệch nội dung, sử dụng giấy tờ giả hoặc bản sao có nội dung không đúng với bản chính thì người tiếp nhận, giải quyết hồ sơ lập biên bản vi phạm, giữ lại hồ sơ để đề nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định pháp luật.

6.  Việc chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền được thực hiện trong các trường hợp sau đây (Đ14):

a) Ủy quyền về việc nộp hộ, nhận hộ hồ sơ, giấy tờ, trừ trường hợp pháp luật quy định không được ủy quyền;

b) Ủy quyền nhận hộ lương hưu, bưu phẩm, trợ cấp, phụ cấp;

c) Ủy quyền nhờ trông nom nhà cửa;

d) Ủy quyền của thành viên hộ gia đình để vay vốn tại Ngân hàng chính sách xã hội.

Đối với việc ủy quyền không thuộc một trong các trường hợp nêu trên thì không được yêu cầu chứng thực chữ ký trên giấy ủy quyền; người yêu cầu chứng thực phải thực hiện các thủ tục theo quy định về chứng thực hợp đồng, giao dịch.

7. Chứng thực chữ ký trong tờ khai lý lịch cá nhân (Đ15)

- Người thực hiện chứng thực không ghi bất kỳ nhận xét gì vào tờ khai lý lịch cá nhân, chỉ ghi lời chứng chứng thực theo mẫu quy định tại Nghị định số 23/2015/NĐ-CP. Trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác về việc ghi nhận xét trên tờ khai lý lịch cá nhân thì tuân theo pháp luật chuyên ngành.

- Người yêu cầu chứng thực phải chịu trách nhiệm về toàn bộ nội dung trong tờ khai lý lịch cá nhân của mình. Đối với những mục không có nội dung trong tờ khai lý lịch cá nhân thì phải gạch chéo trước khi yêu cầu chứng thực. 

8. Tiêu chuẩn người dịch và ngôn ngữ phổ biến (Đ16)

- Trường hợp có bằng đại học trở lên đối với chuyên ngành khác được học bằng thứ tiếng nước ngoài cần dịch thì người dịch cần xuất trình thêm bảng điểm hoặc giấy tờ để chứng minh ngôn ngữ học của mình.

- Ngôn ngữ không phổ biến là ngôn ngữ: Mông Cổ, tiếng Ấn Độ…

9. Người dịch không phải là cộng tác viên của Phòng Tư pháp (Đ 17)

Người dịch ngôn ngữ không phổ biến và cũng không có bằng cử nhân ngoại ngữ, tốt nghiệp đại học phải nộp bản cam kết thông thạo loại ngôn ngữ đó và chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch

10. Hủy bỏ giấy tờ, văn bản đã được chứng thực không đúng quy định (Đ7)

- Chủ tịch UBND cấp xã có trách nhiệm ban ban quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản do cơ quan mình chứng thực không đúng quy định.

- Sau khi ban hành quyết định hủy bỏ phải đăng tải thông tin lên Cổng Thông tin điện tử của Thành phố

- Người đứng đầu cơ quan đại diện ngoại giao, Cơ quan đại diện lãnh sự và các cơ quan khác được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự có trách nhiệm ban ban quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý của giấy tờ, văn bản do cơ quan mình chứng thực không đúng quy định và đăng tải thông tin lên Trang Thông tin điện tử của cơ quan mình.

- Việc ban hành quyết định hủy bỏ giá trị pháp lý và đăng tải thông tin thực hiện ngay sau khi phát hiện giấy tờ, văn bản đó được chứng thực không đúng quy định pháp luật. 

PHÒNG TƯ PHÁP QUẬN